Ngày 17/01/2026, Chính phủ ban hành Nghị định số 23/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định trong lĩnh vực tài nguyên nước. Nghị định đánh dấu sự chuyển dịch mạnh mẽ từ quản lý hành chính sang quản lý dựa trên dữ liệu kỹ thuật và giám sát thời gian thực, nhằm bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên nước và tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước.
Link tải bản đầy đủ của Nghị định số 23/2026/NĐ-CP: Tại đây
I. CÁC ĐỐI TƯỢNG ÁP DỤNG quy định về quan trắc tự động và báo cáo truyền dẫn dữ liệu tài nguyên nước bao gồm các tổ chức, cá nhân khai thác, sử dụng tài nguyên nước thuộc các nhóm quy mô sau:
- Quy mô lớn (từ 10.000 m³/ngày đêm trở lên): Các tổ chức, cá nhân khai thác nước mặt để sản xuất, cung cấp nước sạch cho sinh hoạt với công suất này bắt buộc phải lắp đặt camera, thiết bị đo tự động và truyền dữ liệu (lưu lượng, chất lượng nước) về hệ thống giám sát.
- Quy mô vừa (từ 5.000 m³/ngày đêm đến dưới 10.000 m³/ngày đêm): Các đơn vị này cũng thuộc đối tượng phải thực hiện quan trắc và truyền dữ liệu, tuy nhiên các thông số chất lượng nước yêu cầu có thể được điều chỉnh phù hợp hơn so với quy mô lớn.
- Quy mô từ 3.000 m³/ngày đêm trở lên: Các công trình khai thác nước dưới đất đạt mức công suất này phải lắp đặt thiết bị đo mực nước, lưu lượng tự động và kết nối truyền số liệu theo quy định.
- Các công trình lớn hơn 1.000 m³: Trường hợp cách vị trí giếng quan trắc quốc gia không quá lớn và có điều kiện phù hợp, chủ giấy phép có thể thỏa thuận để sử dụng số liệu quan trắc chung, nhưng vẫn phải đảm bảo quy định về kết nối số liệu
3. Đối với các Hồ chứa (Thủy điện, Thủy lợi) Đây là nhóm đối tượng bị giám sát rất chặt chẽ về vận hành và xả thải:
- Hồ chứa thủy điện: Chủ sở hữu đập, hồ chứa phải thực hiện quan trắc mực nước hồ, lưu lượng xả qua nhà máy, lưu lượng qua tràn và truyền dữ liệu tự động, trực tuyến
- Hồ chứa thủy lợi (phục vụ nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản): Tương tự thủy điện, các đơn vị này phải quan trắc mực nước, lưu lượng xả và truyền dữ liệu với tần suất không quá 15 phút/lần.
II. CÁC NỘI DUNG CHÍNH CỦA NGHỊ ĐỊNH TRONG BỐI CẢNH PHÁP LÝ HIỆN HÀNH:
1. Thiết lập “hàng rào kỹ thuật” trong khai thác tài nguyên nước
Nghị định quy định cụ thể các ngưỡng kỹ thuật bắt buộc để kiểm soát hoạt động khai thác nước dưới đất, đặc biệt là mực nước động cho phép nhằm hạn chế suy giảm tầng chứa nước và sụt lún:
- Đồng bằng sông Hồng và Đồng bằng sông Cửu Long: không quá 35 m
- Đông Nam Bộ: không quá 40 m
- Các vùng khác (tầng chứa nước lỗ hổng): không quá 30 m
- Vùng đất đá bazan, khe nứt (Tây Nguyên…): không quá 50 m
Các con số này là cơ sở pháp lý để cơ quan quản lý (Bộ/Sở TN&MT) cấp phép, gia hạn hoặc đình chỉ hoạt động khai thác nếu doanh nghiệp vi phạm ngưỡng an toàn.
2. Bắt buộc Chuyển đổi số trong Giám sát và Quan trắc (Legal Tech)
Nghị định yêu cầu các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải thực hiện quan trắc và kết nối dữ liệu về Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia.Quy mô bắt buộc quan trắc tự động:
- Nước mặt (sản xuất, cấp nước sạch): Quy mô từ 10.000 m³/ngày đêm trở lên phải có camera và thiết bị đo tự động các chỉ số chất lượng (nhiệt độ, pH, DO, TSS, COD…)
- Nước dưới đất: Quy mô từ 3.000 m³/ngày đêm phải lắp thiết bị đo mực nước, lưu lượng tự động
- Hồ chứa (thủy điện, thủy lợi): Phải truyền dữ liệu tự động, trực tuyến với tần suất không quá 15 phút/lần.

3. Trách nhiệm báo cáo và chế tài về dữ liệu
- Dữ liệu quan trắc phải được truyền liên tục. Trường hợp gián đoạn truyền số liệu:
- Đơn vị vận hành phải khắc phục và cập nhật lại dữ liệu
- Nếu gián đoạn liên tục quá 72 giờ, phải báo cáo bằng văn bản nêu rõ nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho Sở TN&MT hoặc Bộ TN&MT
- Quy định này tạo cơ sở pháp lý rõ ràng để xử lý trách nhiệm khi không tuân thủ nghĩa vụ giám sát và minh bạch dữ liệu.
4. Ý nghĩa tổng thể
Nghị định 23/2026/NĐ-CP là bước tiến quan trọng trong:
- Siết chặt quản lý khai thác tài nguyên nước
- Bảo vệ tầng chứa nước và an ninh nguồn nước
- Thúc đẩy chuyển đổi số, ứng dụng IoT và giám sát thời gian thực
- Nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm của các chủ công trình khai thác
Nghị định tập trung vào siết chặt hoạt động khai thác nước mặt, nước dưới đất và vận hành hồ chứa, thông qua việc quy định rõ ngưỡng khai thác an toàn, thời hạn giấy phép và bắt buộc quan trắc, giám sát tự động đối với các công trình khai thác quy mô vừa và lớn.
Theo đó, các tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên nước phải lắp đặt thiết bị quan trắc mực nước, lưu lượng, chất lượng nước, kết nối và truyền dữ liệu liên tục về Hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu tài nguyên nước quốc gia. Đối với hồ chứa thủy điện, thủy lợi, yêu cầu giám sát được tăng cường với tần suất truyền dữ liệu cao và bắt buộc lắp camera theo dõi việc xả nước.
Nghị định cũng quy định rõ trách nhiệm báo cáo khi xảy ra gián đoạn truyền dữ liệu, trong đó trường hợp gián đoạn liên tục quá 72 giờ, chủ công trình phải báo cáo bằng văn bản cho cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.
Việc ban hành Nghị định 23/2026/NĐ-CP được xem là bước quan trọng trong đẩy mạnh chuyển đổi số ngành tài nguyên nước, nâng cao tính minh bạch, hiệu quả giám sát và góp phần bảo vệ bền vững nguồn tài nguyên nước quốc gia.

